Misteri

Recent Videos

Cả xã hội đang quá mê tín

Đó là chia sẻ của PGS.TS Lương Hồng Quang (phó viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam) trong cuộc trao đổi với báo chí về câu chuyện cầu cúng, rải tiền trong lễ hội.
Ông nói: “Đền Bà Chúa Kho là minh chứng điển hình cho cái gọi là “sáng tạo” truyền thống trong xu hướng di sản hóa. Cùng với đền Bà Chúa Kho, rất nhiều chùa, đền, phủ của chúng ta hiện nay cũng đang đi theo xu hướng này. Nhưng điều kỳ lạ là cả xã hội chấp nhận điều này, đang quá mê tín, quá trông chờ vào vận may từ thánh thần”.
- Đền Bà Chúa Kho được coi là hiện tượng đặc biệt, thu hút hàng vạn người đến cầu cúng mỗi dịp đầu năm và cuối năm, ông lý giải như thế nào về hiện tượng này?
- Đền Bà Chúa Kho là minh chứng điển hình cho cái gọi là “sáng tạo” truyền thống trong xu hướng di sản hóa. Thành công đầu tiên là đã thay đổi chức năng của nhân vật thờ cúng, từ một người giữ kho lương thành bà chúa giữ tiền, bà chúa của ngân hàng, huyền thoại hóa lên. Giới truyền thông góp phần nhiều cho việc này.
Bên cạnh đó, đền Bà Chúa Kho được quản lý như một tổ chức chuyên nghiệp với sổ sách, quy chế rõ ràng, minh bạch, có cơ chế phân chia lợi ích trong cộng đồng.
Cả xã hội đang quá mê tín
Chen nhau hứng nước thạch nhũ để cầu may mắn tại động Hương Tích, chùa Hương (Hà Nội).
Họ dùng nguồn thu đó để bảo tồn, mở rộng nơi thờ tự, các công trình phúc lợi trong dân, tạo công ăn việc làm cho người dân trong nội bộ. Nhưng mô hình này đang gặp vấn đề là tính tự trị quá cao.
Vấn đề không phải thay một mô hình quản lý này bằng một mô hình quản lý khác, sẽ không hiệu quả, mà theo nguyên tắc của xã hội hiện đại, mọi nguồn thu, mọi nguồn quyên góp cần phải được quản lý bằng luật, thay vì luật làng như hiện nay. Đó là một tiến trình lâu dài.
Cuối cùng, các chủ thể ở đền Bà Chúa Kho đã vận dụng tối đa thời cơ của chính sách. Đó là chính sách về bảo tồn phát huy di sản văn hóa dân tộc, tự do tôn giáo tín ngưỡng. Họ vận dụng tối đa điều đó để phục hồi. Họ biết rằng phải có được danh hiệu di tích lịch sử cấp quốc gia, khi có danh hiệu rồi mới mở rộng phạm vi.
Cả xã hội đang quá mê tín
Nhét tiền vào cả tay Phật Bà nghìn mắt nghìn tay ở chùa Lim, Bắc Ninh
- Lễ hội năm nay, chuyện rải tiền lẻ được thắt chặt nhưng tiền lẻ vẫn tung hoành khắp đền chùa miếu phủ. Có thể cắt nghĩa vấn đề này như thế nào, thưa ông?
- Về nguyên tắc cúng là phải có hương, đăng, quả, thực. Tiền cũng là một lễ vật cúng. Ngày xưa người dân chẳng có nhiều tiền, chỉ có tiền lẻ thôi, họ đặt trong mâm cúng.
Hoặc có tiền giọt dầu gửi cho người đứng đầu cơ sở thờ tự để họ chi phí cho việc cúng lễ. Hòm công đức gần đây mới có, ngày trước không có. Hòm công đức là tư duy của xã hội hiện đại.
Sau này người ta còn có một hình thức nữa là ghi phiếu công đức cho những người quyên góp. Có một hình thức khác là thông qua các đợt duy tu sửa chữa, chủ yếu là cung tiến của người có tiền và giới có địa vị trong xã hội. Đây là số tiền đóng góp lớn nhất.
Cả xã hội đang quá mê tín
Chen nhau cọ tiền vào khánh đồng trên chùa Yên Tử mong cầu tài.
Trở lại vấn đề rải tiền, nhiều người thật sự không có hiểu biết khi đi lễ nên cứ làm loạn lên. Họ không được trao truyền các nghi thức nghi lễ của cha ông để lại, cộng thêm nữa là tư duy cứ đi lễ thì phải lễ to, có nhiều tiền rải thì xin được nhiều lộc.
Cái xin bây giờ là cái xin trao đổi, tư duy hàng hóa thương mại. Còn ngày xưa cũng có cầu xin nhưng họ có niềm tin, lễ to lễ nhỏ không quan trọng, vấn đề là mình thành tâm.
Hành vi rải tiền không chỉ sai về mặt nghi lễ, mà còn thể hiện sự thiếu hiểu biết, mê tín của rất đông người dân hiện nay.
Cả xã hội đang quá mê tín
Ném tiền xuống giếng ở đền Côn Sơn, Kiếp Bạc, tỉnh Hải Dương.
- Tất cả điều đó sẽ dẫn đến những hệ lụy nào?
- Cả thế giới từ thập niên 1970 đã bước vào quá trình “di sản hóa”, coi truyền thống là những giá trị cần được ứng xử một cách nâng niu, gìn giữ, tách ra khỏi đời sống hiện hữu trong một xu hướng “gán giá trị”, “gán nhãn hiệu”, và đôi lúc là những vật thiêng, có ý nghĩa văn hóa của một cộng đồng người.
Xu hướng này đặc biệt được các nước phát triển sử dụng để bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong đời sống đương đại. Trong xu thế này, các nước phát triển được cũng nhiều mà mất không ít. Chúng ta đang đứng trước lưỡng nan của sự phát triển văn hóa.
Cái được là tạo ra được sự tiếp nối giữa truyền thống với hiện đại, tiềm năng kinh tế của di sản được phát huy, giá trị của di sản được lan tỏa...
Nhưng có những bất cập:
Thứ nhất, con người rơi vào ảo tưởng, ảo giác, điều này dẫn đến việc mất cân bằng, vị truyền thống một cách siêu hình. Trong khi đó, logic phát triển phải là chuẩn bị gì cho hiện tại và tương lai cần được cân bằng với bảo tồn và phát huy truyền thống.
Cả xã hội đang quá mê tín
PGS.TS Lương Hồng Quang.
Hệ quả thứ hai là việc chạy theo danh hiệu đã làm biến dạng di sản, kể cả mặt vật chất lẫn tinh thần. Các cơ sở thờ tự được mở rộng quy mô, các di sản văn hóa tinh thần cũng được nâng cấp, nâng tầm, nhiều khi làm biến dạng di sản dưới nhiều biểu hiện.
Hệ quả thứ ba, xã hội có vẻ quá mê tín. Trông chờ vào thần thánh, trông chờ vào thế lực siêu nhiên xuất hiện ở nhiều hạng và nhóm xã hội. Một xã hội “tắm mình” trong tín ngưỡng, lễ hội, cúng bái, thờ phụng, nghi lễ. Mê tín nhờ đó cũng trở thành một thứ quyền lực. Đó là điều phải cảnh tỉnh xã hội, nếu không thế hệ trẻ sẽ mất phương hướng.
Đây là vấn đề về chính sách.
- Trong bối cảnh này, theo ông, liệu có biện pháp nào để giảm bớt tình trạng mê tín của xã hội hay không?
- Theo tôi, muốn thay đổi phải cần thời gian để tất cả mọi người thay đổi nhận thức. Khách hành hương hiện nay không có khuôn mẫu văn hóa, họ không biết cái gì nên và không nên khi đến đền chùa miếu phủ.
Mấy chục năm nay người Việt Nam không được trao truyền những nghi thức ấy, cũng không được hướng dẫn. Cho nên, theo tôi, việc đầu tiên là phải giáo dục về việc thực hành các nghi lễ truyền thống.
Trong đó, giới truyền thông cũng cần được trang bị lại hệ thống kiến thức để tránh tình trạng nhiễu loạn như hiện nay.
Mặt khác, bản thân chủ cơ sở thờ tự phải kiên quyết đảm bảo thực hiện nếp sống văn minh. Nếu họ không vào cuộc thì sự nỗ lực của cả xã hội cũng không giải quyết được việc gì.
Cứ nghĩ người dân rải tiền lung tung thì tiền vẫn cứ thuộc về nhà chùa, nhà đền như hiện nay thì khó thay đổi được gì. Chưa nói đến việc hiện nay chúng ta chưa có những quy chế, chính sách nào hiệu quả về vấn đề này. Chế tài lại càng không.
Cả xã hội đang quá mê tín
Một du khách cố thả tiền lên bàn thờ tại đền Trần, Nam Định để cầu may.
Theo Tuổi Trẻ

Tục cõng người chết và nỗi ám ảnh ma rừng

Từ bao đời nay, rừng ma trở thành nỗi ám ảnh dai dẳng trong tâm trí của nhiều người Xê Đăng sinh sống quanh chân núi Ngọc Linh giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ.
Mỗi khi nhắc đến rừng ma, người Xê Đăng  lại nghĩ đến thế giới âm u, lạnh lẽo và hoang vắng dành cho những người đã khuất. Bởi thế, khi cha mẹ chết, họ sợ con ma rừng bắt tội nên người con trai trưởng trong nhà phải đích thân cõng xác cha mẹ leo lên những triền núi cao trong cánh rừng ma chôn cất chu đáo…
Khu đất thiêng dành cho người quá cố
Mỗi khi đặt chân lên vùng đất Nam Trà Mỹ (Quảng Nam), chúng tôi không hết tò mò về một khu rừng ma của người Xê Đăng. Và cũng đã từng ấy lần chúng tôi thấy ái ngại khi có ý định nhờ người dân bản địa dẫn mình tới khu rừng ma kia để tận mắt chứng kiến. Theo các nhà nghiên cứu văn hóa thì rừng ma là một khu rừng cấm, rừng thiêng của bản làng, nơi đó là khu rừng dành riêng để chôn người chết bằng những chiếc quan tài bằng thân cây. Khi chôn, đầu người chết luôn hướng về phía bản để hồn ma không còn được quay về.
Tục cõng người chết và nỗi ám ảnh ma rừng
Cũng theo tập tục có tự bao đời quy định, của cải người sống như thế nào, khi chết sẽ được mang theo như thế. Thông thường vàng bạc, châu báu hay cái gì là vật dụng thân thuộc đối với người chết khi còn sống sẽ được bỏ vào quan tài cùng với thi thể. Họ quan niệm, người chết đi xuống dưới suối vàng sang thế giới bên kia cũng cần của cải, tiền bạc để sinh sống, chờ ngày linh hồn hoàn toàn siêu thoát về cõi tiên. Khi chôn xong vào khu vực rừng ma, người thân sẽ ra về và bỏ mặc trong vòng 1 – 2 năm mới quay lại. Thành ra, rừng ma còn gọi là rừng cấm.
Một số tài liệu nghiên cứu về dân tộc học đã ghi lại rằng, sở dĩ sau khi chôn cất cha mẹ xong, người Xê Đăng sẽ không trở lại thăm mộ nữa trong vòng 1 – 2 năm, là vì họ cho rằng, khi cha mẹ chết nếu con cái thường hay lui tới thăm viếng thì làm hồn cha mẹ vương vấn thế giới này, không chịu siêu thoát. Nếu hồn ma cha mẹ còn vương vấn sẽ bị đày tới 8 tầng địa ngục, mãi mãi không siêu thoát, mà có thể đầu thai làm kiếp người trở thành những kẻ độc ác. Đó là điều đáng sợ nhất tội nghiệp nhất cho cha mẹ họ.
Khu rừng ma rất dễ nhận biết. Đó là khu rừng có những hòn đá nằm lởm chởm khắp nơi, nhiều hang đá, nhiều thân cây cổ thụ cao to, dây leo chằng chịt, cây cối mọc um tùm, hoang vắng đến lạnh người.
Tục cõng xác chết Không riêng gì người Xê Đăng mà tất cả các dân tộc khác sinh sống ở phía đông dãy Trường Sơn đều sợ linh hồn người chết. Vì vậy nên nghi thức và tập tục đem đi chôn cất phải tuân thủ và là điều đại kị không được làm trái.
Khi đưa người chết ra khỏi nhà, những người khiêng người chết phải hướng chân đi trước, đầu ra sau. Đầu thượng lệ là hướng về phía tây, phía mặt trời lặn. Khi đặt thi thể người chết xuống cũng như thế, đầu luôn hướng về phía mặt trời lặn. Làm như thế để linh hồn người chết theo ánh mặt trời lặn mà sang thế giới bên kia, không còn vướng bận, về quấy nhiễu người sống.
Điều độc đáo trong nghi thức tang ma của người Xê Đăng là tập tục kỳ lạ về chôn người chết mà bây giờ vẫn còn lưu truyền, đó chính là tục cõng xác người chết đi chôn, mà người chết là cha mẹ thì con trai trưởng phải đích thân cõng đi. Đối với người Xê Đăng thì việc cõng xác cha mẹ đi chôn chính là sự báo hiếu của con cái đối với cha mẹ của mình và linh hồn của cha mẹ cũng nhanh được siêu thoát hơn.
Thực hiện việc cõng xác cha mẹ phải là người con trai trường trong gia đình. Và ngược lại nếu trong nhà người con chết trước người cha thì người cha phải làm nhiejem vụ là cõng người con đi. Còn trường hợp người cha chết trước mà người con còn quá nhỏ không thể thực hiện việc cõng cha được, thì việc đó được một người thân trong họ hàng giúp đỡ.
Luật tục người Xê Đăng không ghi rõ tục cõng người chết đi chôn có từ bao giờ, mà khi họ lớn lến đã thấy ông bà, người già trong làng truyền lại tập tục này. Điều mà họ biết về quan niệm của người Xê Đăng, mọi việc đến với con người là do sự sắp đặt của thần linh, thần linh chi phối tới cuộc sống. Một khi xuất hiện một cái chết của ai đó, thì đấy cũng chính là ý muốn của thần linh, có chống lại cũng không được.
Vì vậy, việc thực hiện nghi thức cho người chết trước khi đưa về với thế giới thần linh cũng được chuẩn bị một cách rất cẩn thận và trang nghiêm. Việc đầu tiên mà mọi người làm cho người chết là vệ sinh, tắm rửa thật sạch sẽ, chọn một bộ đồ mới mặc vào. Sau đó, được đưa đi tới nơi chôn cất, người thân trong gia đình, cha mẹ, con cái có trách nhiệm cao trong việc đưa người chết về nơi an nghỉ cuối cùng. Và cũng không ai trong gia đình được khóc.
Đối với những trường hợp người chết dữ (thắt cổ chết, tai nạn chết…), mặt người chết được đặt xoay về hướng Tây. Người ta cho rằng, làm vậy con ma dữ không thể thấy được người sống để làm hại dân làng (làng của người sống ở về hướng Đông của rừng ma hoặc nghĩa địa).
Người Xê Đăng không có tục chia của, cũng không cúng giỗ người chết. Khi chôn người thân xong, người ta trở về nhà với cuộc sống bình thường. Có thể nói, lễ bỏ mả được thực hiện ngay khi chôn xong người chết. Chỉ khi có dịp quay lại nghĩa địa (thường là để chôn người khác), người ta mới đến thăm mộ người chết mà thôi.
Huyệt mộ được đào gồm hai phần: từ trên xuống có tiết diện hình vuông, mỗi cạnh khoảng 40cm. Phần huyệt này được đào sâu khoảng 1,5m. Sau đó, huyệt được khoét ngách vừa đủ để người chết nằm ngang, đầu quay về hướng Tây. Chiều cao của huyệt từ đáy đến trần ngách ngang khoảng 60 cm.
Khi lấp đất người ta đặt một tấm gỗ vào nơi bắt đầu khoét ngang trước khi đổ đất xuống huyệt. Người ta tránh không để đất rơi xuống thi thể, đặc biệt là không để mặt và phần trên của thi thể người chết tiếp xúc với đất. Sự cẩn trọng khi lấp đất thể hiện thái độ trân trọng, thương tiếc của dân làng đối với người vừa mất.
Rừng ma và nỗi ám ảnh Đến nay, nhiều câu chuyện về rừng ma nghe có vẻ hoang đường nhưng bất cứ ai khi nghe cũng lạnh người. Những người bạn mà chúng tôi quen lâu nay mỗi khi nhắc lại những ký ức một thời ở rừng đều cảm thấy khiếp vía. Họ đã thực sự du nhập được cuộc sống của thành phố. Suy nghĩ về ma rừng cũng có phần bớt sợ hãi hơn. Thế nhưng cũng chỉ dám dắt chúng tôi tới bìa rừng chỉ về phía xa đó là rừng ma, ngoài ra không dám đặt chân tới.
Hỏi một người già trong làng về rừng ma và con đường đi tới đó. Ông nói: “Tìm con ma rừng làm gì? Người chết rồi là thần linh đưa đi rồi, không còn liên quan gì tới làng nữa. Làng cũng để cho ma rừng được yên trong thế giới của họ".
Men theo bước chân từ đỉnh núi Ngọc Linh (thuộc xã Tràn Linh) về tới Trà Nam chỉ cách thị trận Pắc Pỏ (huyện Nam Trà My) hơn 20 km đường núi, chúng tôi nhìn thấy một dãy nhà nộ trú xây dựng kiên cố, bị bỏ hoang trong khi học trò dựng lều tạm trọ học gần trường. Thậm chí, không một người Xê Đăng nào dám đến gần khu nhà nội trú.
Đó là vào đêm 29/9/2009, một thầy giáo công tác lâu năm trong trường kể lại: “Hôm đó khoảng gần 10h đêm, chúng tôi nghe một tiếng ầm rất lớn, tưởng đá núi đè sập khu nhà ở của cán bộ, giáo viên trong trường. Nhưng chẳng ngờ lũ quét lại tấn công khu nội trú của học trò, nguyên một vạt đồi đổ ập xuống hai phòng đầu tiên của dãy nhà đà đè chết một em học sinh đang ngủ".
"Phải vận động lắm gia đình em học sinh xấu số mới chịu làm mai táng cho con. Còn với người Xê Đăng, họ không bao giờ dám đến dãy phòng học đó nữa, đừng nói chi là ở. Dù nhà  trường đã làm đủ cách”.
Một buổi làm việc tại trường, chúng tôi cũng đã nhận ra được không một học trò nào dám bén mảng đến khu nội trú. Và những ánh mắt trẻ con nhìn theo khi chúng tôi bước vào trong dãy nhà đầy sợ sệt, lấm lét. Không chỉ có vậy, những cán bộ giáo viên từ miền xuôi lên miền núi công tác cũng cảm thấy thiếu tự tin khi tới đây.
Những truyền thuyết đầy bí ẩn về rừng ma và nỗi khiếp sợ về cái chết vẫn còn tồn tại trong các bản làng người Xê Đăng. Có lẽ phải nhiều năm nữa, nhiều thế hệ nữa, khi các con cháu của họ được học hành, tiếp xúc với văn minh, những hủ tục lạc hậu mới dần được xóa bỏ.
Theo Dòng Đời

Chuyện lạ ở Hà Giang: Treo chó chết trước cổng nhà

Trước ngôi nhà gỗ thấp lè lè, ẩn sau ruộng ngôi xanh mướt, ngay cạnh đường, có một con vật đen thui, lông dài phủ mặt, treo lủng lẳng.
Đang phóng xe trên con đường đèo dốc uốn lượn, ngắm cảnh núi đá nhấp nhô, đẹp như cổ tích, qua bản Chi Lầu Dung (Tát Ngà, Mèo Vạc, Hà Giang), chúng tôi bỗng khựng lại bởi một cảnh tượng kỳ lạ: Trước ngôi nhà gỗ thấp lè lè, ẩn sau ruộng ngôi xanh mướt, ngay cạnh đường, có một con vật đen thui, lông dài phủ mặt, treo lủng lẳng.
Thấy sự lạ, chúng tôi dừng xe, mỗi người phán một kiểu, người bảo chồn, người bảo cáo, người bảo chó rừng, chó sói… Rốt cục, chưa rõ con gì.
Chui qua cái cổng dựng tạm bằng mấy cành cây, treo con chó đen thui, theo lối nhỏ, chúng tôi tìm vào ngôi nhà thấp lè tè bên vệ đường.
Nhà không có cánh cửa, nhưng chẳng có ai. Đồng bào Mông thường lên nương cày cuốc, hoặc vào rừng kiếm củi, đặt bẫy từ sáng sớm, đến chiều tối mới về.
Chuyện lạ ở Hà Giang: Treo chó chết trước cổng nhà
Hình ảnh một chú chó chết treo trước cổng, ngay bên đường.
Mặt trời ngấp nghé bên kia dãy núi, bóng tối bủa vây thung lũng, thì thấy một người phụ nữ đeo bó cỏ sau lưng về nhà. Chúng tôi gọi bà hỏi chuyện, nhưng bà chỉ cười bẽn lẽn, không bắt lời, cứ cắm cúi đi, tỏ vẻ xấu hổ. Bà chui tọt vào trong nhà, ngồi lỳ bên bếp lửa.
Thất vọng quay ra, thì lại gặp một thanh niên lững thững đi về, lưng đeo dao phát. Nhưng hỏi gì, anh cũng chỉ “chư pâu” (không biết).
Xã Tát Ngà núi đá lởm chởm, đá đen xám ngắt, nhìn đâu cũng chỉ thấy đá. Đá dềnh lên trong những ánh mắt u buồn. Đồng bào ngày đêm cày cuốc, trần lưng trên núi đá mà vẫn đói ăn.
Điện vẫn chưa có, cuộc sống tối tăm, hủ tục từ ngàn năm nay dường như vẫn nguyên vẹn ở vùng núi đá này. Tìm được người nói tiếng phổ thông ở đây quả là khó.
Mãi sau, thấy ánh đèn xe máy lấp loáng từ chân dốc lên, tôi ra đường vẫy, “bắt cóc” được một thanh niên đi từ trong xã Nậm Ban ra thị trấn Mèo Vạc.
Anh thanh niên người Giáy giới thiệu tên là Lý A Sung, nhà ở xã Nậm Ban, chuyên nghề “quặng tặc” bán sang Trung Quốc. Giao du, va chạm nhiều, nên Sung biết nhiều… “ngoại ngữ”. Lý A Sung biết 3 thứ tiếng, gồm tiếng Giáy, Mông, và tiếng phổ thông.
Qua phiên dịch của Sung, chúng tôi mới biết sơ qua hành động treo chó chết lủng lẳng trước nhà của đồng bào Mông nơi đây. Sung vào trao đổi với anh chàng chủ nhà nhỏ thó, rồi phiên dịch lại cho tôi. Chủ ngôi nhà này là Vàng A Lếnh, năm nay 18 tuổi.
Chuyện lạ ở Hà Giang: Treo chó chết trước cổng nhà
Vàng A Lếnh.
Lếnh bảo, nhà neo đơn, lại nghèo nhất bản Chi Lầu Dung. Bố mẹ sinh 5 lần, nhưng chỉ nuôi lớn được Lếnh và người chị gái. Chị gái đã lấy chồng, sinh con, nhưng vợ chồng con cái sống tít trên núi đá tai mèo, quanh năm quần quật với núi đá nương ngô, đến mèn mén cũng chẳng có đủ để ăn.
Xưa kia, nhà Lếnh ở sâu trong núi, nhưng được sự động viên của chính quyền, bố mẹ Lếnh đã xuống núi, dựng ngôi nhà ở gần đường, những mong cuộc sống đổi thay. Tuy nhiên, từ ngày xuống núi, tai họa liên tiếp ập xuống gia đình Lếnh. Dựng nhà xong, bố Lếnh thường xuyên ốm đau, quặt quẹo, chẳng còn sức lực lao động nữa.
Đồng bào Mông nơi đây ốm đau không đi bệnh viện, mà mời thầy cúng bắt ma. Thầy cúng, thầy mo khắp nơi được mời đến, cúng bái tốn kém không biết bao nhiêu mà kể, nhưng ông vẫn không qua khỏi.
Chuyện lạ ở Hà Giang: Treo chó chết trước cổng nhà
Trò chơi chặt mía ăn tiền ở địa đầu Hà Giang.
Bố Lếnh đã về với đá từ 3 năm trước, để lại hai mẹ con Lếnh trong ngôi nhà hoang tàn giữa núi đá mênh mông. Đầu năm nay, theo đám bạn đi chợ phiên Mèo Vạc, Lếnh đã gặp một cô gái, hơn Lếnh 3 tuổi. Hai người trò chuyện, rồi tâm đầu ý hợp. Nàng say tiếng kèn môi và men tình của Lếnh. Lếnh kéo nàng về làm vợ.
Nhà cả hai cùng nghèo, thông cảm với hoàn cảnh của nhau, nên lễ cưới cũng đơn giản với con lợn, mấy con gà, vài hũ rượu và thủ tục cúng bái của thầy mo.
Nhắc đến người vợ, Lếnh kéo vạt áo nhàu nhĩ màu đất lau nước mắt. Về ở với nhau, miếng ăn chẳng có, thấy tương lai mịt mù, tăm tối, nên vợ Lếnh đã đổi lòng. Nàng nói thẳng với Lếnh rằng, không muốn ở với nhau nữa, muốn đi lấy chồng khác.
Và con chim đã nhẫn tâm bỏ tổ. Vợ Lếnh theo một cô bạn trong bản bỏ đi mất. Nàng còn nhắn nhủ lại qua một người trong bản rằng, nàng đã sang Trung Quốc tìm chồng, không bao giờ về nữa. Nàng xin lỗi Lếnh và mong Lếnh tìm thấy người đàn ông khác. Lấy vợ chưa được tuần trăng, đã lại mất vợ, Lếnh chỉ biết ôm mặt khóc, tủi cho phận mình.
Mẹ Lếnh, người đàn bà lam lũ đã phải chịu quá nhiều khổ đau. Nỗi đau mất chồng chưa nguôi, thì nỗi đau mất con dâu, chứng kiến cảnh con trai đau khổ vật vã, khiến bà đổ quỵ.
Bà không thiết ăn, không thiết làm gì nữa. Bà nằm bẹp trên giường, miệng rên rỉ ngày đêm không ngớt.
Không biết bấu víu vào đâu, Lếnh hoang mang tột độ. Các bác, các chú đã đến nhà, họp bàn, và quyết định mời thầy cúng đến đuổi tà.
Thầy cúng được rước đến nhà Lếnh. Thầy cúng phán: “Trong nhà có nhiều ma quá. Bọn ma nó tìm cách làm hại gia đình, khiến gia đình ly tán, tan nát. Chỉ còn cách đuổi bọn ma đi, thì mới hết bệnh, hết vận rủi”.
Đồng bào Mông ở vùng đất địa đầu Hà Giang đều rất sợ ma. Họ nhìn đâu cũng ra ma. Nào ma gà, ma xó, ma suối, ma cây, ma góc bếp, đặc biệt là con ma ngũ hải chuyên hại người.
Vậy nên, trong gia đình, dòng họ, bản làng có gì bất thường, họ đổ riệt cho những con ma hành. Con người ốm đau, bệnh tật, buồn phiền... cũng đều do con ma cả. Con ma là thứ ám ảnh vô hình vây quanh cuộc sống của họ.
Có vô số sách trừ ma, đuổi tà, nhưng cái cách trừ tà của đồng bào Mông ở vùng đất xa tít xa tắp, tận cùng của địa đầu Tổ quốc này, thì quả thực quá kỳ lạ. Họ giết chó, rồi treo xác chó trước cổng nhà.
Theo VTC

Nỗi oan những người mang danh 'ma độc'

Cái tên "ma độc" được người dân hay gọi chuyên để chỉ những kẻ đi bỏ thuốc độc hại người nhằm thực hiện lời nguyền trước khi được chọn làm truyền nhân.
Theo lời nguyền, mỗi năm "ma độc" phải giết chết được số lượng người nhất định, nếu thực hiện được "ma độc" sẽ ngày càng trở nên giàu có, cây trồng vật nuôi sinh sôi phát triển. Ngược lại, nếu việc bất thành, lời nguyền sẽ phản tác dụng. Nhẹ thì trâu bò, lợn, gà bị chết, còn nặng thì một trong những thành viên trong gia đình sẽ bị mất mạng hoặc ly tán.
Nỗi oan những người mang danh 'ma độc'
Trưởng xóm Nà Khiêu, anh Ngân Bá Tạ
Tin đồn về cách bỏ độc giết chết người ở xã Đức Hồng, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng rất đáng sợ. Những kẻ bỏ độc có thể giết chết bất cứ ai nếu muốn, bằng cách dùng ngón tay đã tẩm độc sẵn rồi mời nước hoặc rượu. Để không bị nghi ngờ, họ sẽ uống rượu trước rồi mới mời lại khách. Nhưng không ai ngờ rằng, trước khi người khách đón lấy chén rượu thì kẻ bỏ độc đã dùng ngón trỏ bôi độc lên mép dưới chén.
Kinh khủng hơn nữa, kẻ bỏ độc có thể dùng độc bôi vào các loại cây ăn quả mọc dại ven đường để bẫy người không may ăn phải. Bằng cách này, họ không bị phát hiện và không phải áy náy khi giết người. Đồng thời, con "ma độc" cũng thực hiện được lời nguyền man rợ mỗi năm phải giết chết được số lượng người đã quy định. Ngược lại, nếu không thực hiện được thì lời nguyền sẽ phản chủ, nhẹ thì trâu bò, lợn, gà bị chết, còn nặng thì một trong những thành viên trong gia đình sẽ bị mất mạng.
Một số già làng ở xã Đức Hồng cho hay, loài thuốc độc đã ám ảnh người dân vùng sơn cước này từ hàng chục năm nay có hai loại cây: đó là cây màu đỏ và trắng. Hai cây này được những kẻ bỏ độc trồng ở nơi kín đáo, ẩm thấp, chỗ nào càng bẩn thì độc tính càng cao. Tùy theo từng trường hợp, người hạ độc sẽ dùng một trong hai cây đó để giết người.
Trong đám đông, họ không bao giờ dùng loại cây thuốc độc màu đỏ bởi vì loài này gây chết người ngay tức khắc, không thể cứu chữa kịp thời và dễ bị phát hiện. Với cây thuốc độc màu trắng, nạn nhân sau vài ngày bị dính độc mới bắt đầu phát tác, sau đó toàn thân mất hết sức lực, khản giọng, cơ thể run rẩy… Vì vậy, nạn nhân có thể cứu chữa được nếu gặp được thầy lang "cao tay" nắm giữ cách trị độc.
Nhưng đáng sợ nhất vẫn là cây thuốc "Riu" (theo cách gọi của Tày, Nùng) - một loại độc dược phá hủy nội tạng con người. Những ai xấu số dính phải chất kịch độc này không hề biết mình đang dần đối mặt với cái chết. Ruột gan nạn nhân sẽ biến chứng, thối rữa trong một thời gian ngắn ngủi, người dính độc chỉ còn nước chết chứ không thể cứu chữa khỏi.
Đặc biệt, loại cây độc dược này có khả năng biến hóa khôn lường. Nếu người trúng độc đã từng dùng phương thuốc của thầy lang y này chữa khỏi, và lần tiếp theo lại bị "ma thuốc độc" tấn công thì nạn nhân phải tìm đến một thầy thuốc khác mới có thể cứu sống.
Chính vì những tin đồn kinh hoàng như vậy, nhiều người luôn có cảm giác nơm nớp lo sợ, đề cao cảnh giác khi đến một số bản ở Đức Hồng. Và càng không có chuyện người lạ dám uống nước, thưởng rượu cùng người trong xã khi có đám hiểu hỷ.
Anh Nông Văn Khâm, Phó Chủ tịch xã Đức Hồng.
Anh Nông Văn Khâm, Phó chủ tịch xã Đức Hồng.
Bi kịch những người bị gán mác "ma thuốc độc"
Men theo những con đường rải đá nhấp nhô, gồ ghề đi vào các thôn bản trong xã Đức Hồng, chúng tôi truy tìm tung tích của "ma độc". Hỏi người dân ở bản Nà Khiêu, Nà Ngườm không ai không biết đến hai người tên Hoàng Văn Truyền và Chung - hai "ma độc" một thời hoành hành tại các bản trong xã Đức Hồng, Cao Thăng. Tuy nhiên, công việc tìm kiếm của chúng tôi phải dừng lại vì được biết, người tên Chung đã chuyển vào miền Nam sinh sống và một người đã mất cách đây nhiều năm.
May mắn, anh Trưởng bản Nà Khiêu - Ngân Bá Tạ lại biết khá rõ về chuyện này. Anh chính là truyền nhân của người cha đã mất Ngân Bá Đàm - một thầy lang y nổi tiếng một thời về các bài thuốc chữa bệnh cứu người. Cho đến nay, anh vẫn còn nhớ như in những chuyện xảy ra tại các bản lân cận trong xã.
Theo anh Tạ, những năm 1990, chuyện về tục bỏ độc giết hại người đã ám ảnh mọi người dân đến cả ngay trong giấc ngủ. Đi đâu cũng nghe mọi người xôn xao, bàn luận về những cái chết bất thường, không rõ nguyên nhân. Sau khi bàn luận chán chê, cuối cùng người dân lại tìm cách bắt quả tang những người hạ độc.
Và rồi, một thời gian sau dân bản cũng tìm ra "ma độc". Không ai khác, đó chính là Hoàng Văn Truyền, người đã đầu độc ông Lục Văn Thước ở bản Nà Ngườm. Theo cái cớ mà người dân khẳng định ông Truyền là người nuôi độc bởi vì có hai lý do. Thứ nhất, nơi ông Thước trúng độc là ở tại nhà ông Truyền. Thứ hai, trong lúc ông Thước đang lên cơn sốt nặng, ông Truyền đã chỉ đường mách nước đến nhà một thầy lang y lấy thuốc về chữa trị.
Người dân suy luận logic sự việc, cho rằng Hoàng Văn Truyền lúc đầu đã cố ý hại ông Thước. Tuy nhiên, sau vài hôm ông Truyền cảm thấy áy náy nên đã gián tiếp cứu sống ông Thước. Ngay sau khi ông Lục Văn Thước được chữa khỏi, cả làng đã họp lại và đưa Hoàng Văn Truyền vào nhà văn hóa lập biên bản và đòi giết.
Vụ việc còn đưa lên Tòa án huyện giải quyết nhưng không có bằng chứng nên Tòa không xử lý và cho hai bên hòa giải. Tuy nhiên, sau vụ kiện đó cả bản đã cô lập cả gia đình ông Hoàng Văn Truyền, các ngày ma chay, đám cưới của bản không được phép tham gia. Trong thời gian đó, hễ mỗi lần ông Truyền ra ngoài đường là bị thanh niên trong bản xua đuổi, dọa nạt, thậm chí đánh đập. Sau này, vì cô đơn với sự kỳ thị của dân làng mà ông sinh bệnh chết cách đó không lâu.
Còn người được người dân gọi là "ma độc" Chung lại chọn cách giải thoát bằng cách cả gia đình chạy vào miền Nam sinh sống. Trong thời gian sống ở bản Pác Bo, xã Cao Thăng (giáp ranh với xã Đức Hồng), ông Chung luôn chịu sự dị nghị, xa lánh của người dân trong vùng. Cũng không ai chứng kiến và dám khẳng định việc ông Chung nuôi độc, hại người nhưng trong ý nghĩ của người dân nơi đây luôn chất chứa sự nghi hoặc, sợ hãi.
Chuyện bắt đầu xảy ra vào cuối những năm 1990. Đây là giai đoạn mà nghiệp bốc thuốc cứu người của ông Chung đang ở đỉnh cao. Tuy nhiên, danh tiếng ông bị đánh mất khi bệnh nhân lấy thuốc từ ông về uống mà không khỏi bệnh và bị chết ngay sau đó. Người dân khi thấy chuyện chết chóc mang tính bí ẩn, lạ lùng lại đổ tội cho "ma độc". Nhiều người bắt đầu nghi ngờ, xa lánh, thậm chí có người còn thẳng thừng nói rằng, có thể trong quá trình bốc thuốc ông Chung nhầm với cây thuốc độc nào đó nên mới dẫn đến cái chết của người bệnh nhân ở xã Cao Thăng.
Đường vào làng Nà Khiêu.
Đường vào làng Nà Khiêu.
Vì vậy, tin đồn cùng những lời thêu dệt lại được nhiều người bàn cãi. Họ vừa sợ hãi vừa âm thầm theo dõi nhằm bắt quả tang, bóc mẽ chiêu trò của ông Chung giết người bằng thuốc độc. Và rồi, ngày định mệnh cũng đã xảy đến với ông. Trong một bữa tối đi ăn cưới ở xã bên, một vị khách ngồi cùng mâm cỗ với ông Chung bỗng dưng bị đau bụng dữ dội. Lập tức, cả chủ nhà lẫn khách mời xúm quanh người đàn ông đang nằm ôm bụng. Mọi người liền nghi ngờ trong mâm nhất định đã có người bỏ độc.
Một lúc, có người nhảy vào đám đông ồn ào và hét to: "Kẻ bỏ độc chính là ông Chung, giờ thì không chối cãi được nữa nhé". Lập tức, những con mắt đổ dồn vào ông này. Những người trong mâm rượu cũng đã chứng kiến người khách bị đau bụng đã uống với ông Chung mấy chén rượu nên đã lôi cổ ra khỏi nhà và đánh tới tấp.
Sau trận đòn "thừa sống thiếu chết", mãi đến sáng hôm sau, ông Chung mới bò lê lết về tới nhà. Lúc đó, từ làng trên bản dưới khắp nơi đều bàn tán chuyện ông "bị quả báo". Nhiều người còn suy đoán, ông biết cây thuốc trị thương nên mới giữ được mạng sống. Không chịu được những ánh mắt nghi hoặc, khinh ghét, cũng chẳng thể thanh minh được nửa lời, ông Chung đã cùng gia đình quyết định rời khỏi vùng quê.
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ
Anh Ngân Bá Tạ cũng khẳng định: "Tôi hành nghề đã nhiều năm nay, nhưng chưa có trường hợp nào mắc bệnh lạ hay trúng độc. Nhiều chuyện thật bi hài đã xảy ra xoay quanh chuyện "ma độc". Vài trường hợp trong lúc nửa đêm đập cửa đùng đùng gọi tôi thức dậy và xông vào nhà với vẻ hoảng hốt nói rằng người nhà đã bị người khác hạ độc, mong đến nhà cứu chữa. Tuy nhiên, khi đến nhà thì "bệnh nhân" đã khỏi bệnh cười đùa nhảy nhót. Hỏi ra mới biết người này hay mắc chứng… tức bụng".
Nhiều khi do nghi ngờ mù quáng đã làm mất đi tình cảm thân thiết, sự gắn bó đoàn kết của những người dân trong các bản làng, dẫn đến những sự việc đáng tiếc như vừa kể trên. Tin rằng, trước sự nỗ lực của chính quyền địa phương trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và công tác tuyên truyền nhằm phục vụ cho cuộc sống của nhân dân sẽ góp phần nhanh chóng đẩy lùi những hủ tục, mê tín dị đoan để tránh sự việc đáng tiếc xảy ra, đặc biệt là đề phòng, cảnh giác kẻ xấu lợi dụng.
Để biết thực hư về tục bỏ độc giết hại người, chúng tôi đem thắc mắc đến hỏi anh Nông Văn Khâm, Phó chủ tịch UBND xã Đức Hồng. Nhấp xong ngụm trà nóng, anh Khâm cho biết: "Thực tế nhiều năm nay có xuất hiện những lời đồn về "ma độc", nhưng qua tìm hiểu thì không phải là sự thật. Nhiều người bị ngộ độc thực phẩm cũng đều đổ tội cho "ma độc". Làm sao mà có nhiều "ma độc" đến thế chứ. Người ta cứ đồn đại như thế làm tai tiếng cho xã chúng tôi. Tôi khẳng định là không có "ma độc".
Anh Khâm cho biết thêm, cả xã có 700 hộ và hơn 3.000 nhân khẩu gồm 2 dân tộc Tày, Nùng cùng sinh sống. Chuyện "ma độc" ngày xưa các cụ không hiểu biết, trình độ dân trí còn thấp nên mới có những lời đồn đại như vậy. Hiện nay, đời sống nhân dân được no đủ hơn, nhận thức cũng được nâng lên ắt sẽ loại bỏ được những ý nghĩ, tin đồn về tục bỏ độc giết hại người. Nhưng nỗi oan của cả xã chưa biết bao giờ sẽ được thanh minh, gột rửa?
* Tên nhân vật trong bài đã được thay đổi
Theo Nông Lưu Vĩnh/Công An Nhân Dân
(*) Tiêu đề đã được Zing.vn đặt lạ

Tục tặng quan tài ngày cưới của người Cơ Tu

Ở bản làng người Cơ Tu trên dãy Trường Sơn, từ vùng cao (Cơ Tu Dal) đến vùng thấp (Cơ Tu Phương), thì những cỗ quan tài (T’rang) thường được để ở dưới gầm nhà hoặc ở chái sau hè.
Già Làng Đinh Văn Bớt (65 tuổi) ở thôn Tà Lâu, xã Ba, huyện Đông Giang (Quảng Nam) cho hay, quan tài của dân tộc Cơ Tu được làm ra từ thân gỗ tròn có đường kính từ 0,5m trở lên, cắt làm từng đoạn vừa đủ cho một người nằm khi đã qua đời.
Mỗi quan tài có nắp đậy, phần ở trên là quan tài bố (T’rang conh) và ở dưới là quan tài mẹ (T’rang căn).
Đồng bào Cơ Tu còn biếu quan tài từ người khoẻ mạnh cho người đang đau ốm, dưỡng bệnh hoặc từ người có của ăn, của để sang người nghèo khó.

Tục tặng quan tài ngày cưới của người Cơ Tu
Quan tài được xem là món quà quý mà đồng bào Cơ Tu tặng cho những người mình rất quý trọng.
Đây không phải là sự thể hiện có hàm ý mong cho người nhận quan tài sớm qua đời, mà là tình cảm cao quý để nhường cho người khác hưởng lại những gì mình cần nhất trong cuối đời.
Già làng Bhr’iu Nga (53 tuổi), ở thôn Aliêng, xã Ating (Đông Giang) còn đưa chúng tôi đi xem một cỗ quan tài bình thường và nói: “Người dân Cơ Tu có truyền thống lâu đời là người làm quan tài chủ yếu biếu, tặng người đã có công giúp và nuôi dưỡng mình như con rể làm cho cha mẹ vợ, con làm cho cha mẹ mình, cô, chú, bác ruột. Có nhiều trường hợp, trong làng có người chết nghèo khó, thì quan tài của một người tốt bụng trong làng sẽ mang tới cho không".
Ngoài ra, quan tài được xem là món quà biếu khi trong gia đình có tổ chức đám cưới, hoặc đám hỏi giữa nhà trai và nhà gái. Quan tài được nhà trai biếu cho nhà gái như của hồi môn.
Tuy nhiên, ngoài dịp cưới không phải lúc nào cũng có thể biếu nhau bằng quan tài được, mà phải tùy trong từng hoàn cảnh cụ thể, tức khi nhà gái có tang lễ. Do đó, quan tài thường được xem là vật quý, có giá trị trong cuộc sống sinh hoạt của đồng bào Cơ Tu…
Theo Dân Việt

Phan Thị Bích Hằng 1000 năm Thăng Long Hà Nội

Thế giới không như mình thấy Phan Thị Bích Hằng 6

 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2013. Thế Giới Tâm Linh - All Rights Reserved
Template Created by Creating Website Published by Mas Template
Proudly powered by Blogger